KARATE-DO có phải là số 1 !

Karate (空手, からて) hay Karate-Do (空手道, からてどう) – (Hán Việt: Không Thủ Đạo) là một môn võ thuật truyền thống của vùng Okinawa (Nhật Bản). Karate có tiếng là nghệ thuật chiến đấu với các đòn đặc trưng như đấm, đá, cú đánh cùi chỏ, đầu gối và các kỹ thuật đánh bằng bàn tay mở. Trong Karate còn có các kỹ thuật đấm móc, các kỹ thuật đấm đá liên hoàn, các đòn khóa, chặn, né, quật ngã và những miếng đánh vào chỗ hiểm. Để tăng sức cho các động tác tấn đỡ, Karate sử dụng kỹ thuật xoay hông hay kỹ thuật Kime, để tập trung lực năng lượng toàn cơ thể vào thời điểm tác động của cú đánh.

1

Xuất xứ tên gọi Karate-Do

Trước đây, khi mới chỉ giới hạn ở Okinawa, môn võ này được gọi là “Totei” theo ngôn ngữ ở đây, và được viết là 唐手 (tangsho, Đường Thủ, tức các môn võ thuật có gốc từ Trung Hoa). Vào thời kỳ Minh Trị, môn võ này bắt đầu được truyền vào lãnh thổ chính của Nhật Bản, thì chữ 唐手 được phát âm theo tiếng Nhật là Karate và giữ nguyên cách viết này cho tới tận ngày nay.

Tuy nhiên, do 唐手 thường bị hiểu không đúng là “võ Tàu”, cộng thêm việc môn võ này thường chỉ dùng tay không để chiến đấu, nên người Nhật bắt đầu từ thay thế chữ 唐 bằng một chữ khác có cùng cách phát âm và mang nghĩa “KHÔNG”, đó là 空. Tên gọi Karate và cách viết 空手 bắt đầu như vậy từ thâp niên 1960. Giống như nhiều môn phái khác ở Nhật Bản (Trà đạo, Thư đạo, Cung đạo, Kiếm đạo, Côn đạo, Hoa đạo…), Karate được gắn thêm vĩ tố “Đạo”, phát âm trong tiếng Nhật là “DO” (viết là 道). Vì thế, có tên Karate-Do. Đa số người tập karate đều hướng tới chữ “Do” này đều muốn học trò của mình có đạo đức nhân cách.

Lịch sử hình thành

Karate được phát triển trên cơ sở tổng hợp các phương thức chiến đấu của người Ryukyu với các môn võ thuật ở phía Nam Trung Quốc nhằm chống lại ách đô hộ hà khắc mà giới cai trị Nhật Bản áp đặt lên dân bản xứ bấy giờ.

Tuy nhiên, xuất xứ chính xác của môn võ này còn chưa được xác định, bởi không tìm được thư tịch cổ nào của Vương quốc Lưu Cầu xưa ghi chép về môn võ này. Người ta chỉ có thể đưa ra được những giả thiết về nguồn gốc của Karate.

Đẳng cấp đai màu và danh hiệu

Chế độ đẳng cấp và màu đai của Karate là học từ Judo và bắt đầu thi hành từ năm 1924.

Ban đầu chỉ có Đai đen (huyền đai) và Đai trắng. Đai đen dành cho những người đã có quá trình luyện tập, còn đai trắng dành cho người mới bắt đầu. Giữa đai trắng và đai đen có từ 1 đến 3 đai nữa tùy theo từng lưu phái.

Hay dùng nhất là đai màu xanh lá cây (màu trà xanh Nhật). Ngoài ra tùy lưu phái có thể có đai vàng, đai đỏ, đai nâu, đai tím, v.v … Trong đai đen lại có khoảng 10 đẳng, thấp nhất là nhất đẳng (nhất đẳng huyền đai). Những người đạt đến trình độ ngũ đẳng huyền đai đến lục đẳng huyền đai được gọi là Renshi (錬士) ngũ đẳng và Renshi lục đẳng, từ thất đẳng huyền đai đến bát đẳng huyền đai được gọi là Kyoshi (教士) hoặc Tatsushi (達士), từ cửu đẳng huyền đai trở lên gọi là Hanshi (範士). Cũng có lưu phái không sử dụng các danh hiệu này.

6

Trang phục

Nguyên thủy, người luyện tập và đấu Karate cởi trần, mặc quần dài hoặc quần cộc. Ngày nay, người luyện tập Karate mặc áo màu trắng là học theo áo của môn Judo. Karate truyền thống thường mặc áo mà tay áo dài đến cổ tay, ống quần cũng dài đến cổ chân. Trong khi đó, Full Contact Karate mặc áo quần có ống tay áo và ống quần ngắn hơn.

Nguồn: wikipedia

Đến Hiroshima bạn phải nên thử những điều này !

Thành phố Hiroshima có nhiều điểm được đăng ký di sản văn hóa thế giới, ở đây có rất nhiều địa điểm thăm quan hấp dẫn, từ các di tích lịch sử giúp ta cảm nhận rõ về lịch sử, đến các đặc sản của địa phương. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn về 5 điều phải biết.

Thành phố Hiroshima có nhiều điểm được đăng ký di sản văn hóa thế giới, ở đây có rất nhiều địa điểm thăm quan hấp dẫn, từ các di tích lịch sử giúp ta cảm nhận rõ về lịch sử, đến các đặc sản của địa phương. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn về 5 điều phải làm khi đến Hiroshima.

  1. Cầu nguyện cho hòa bình ở genbaku dome (nhà mái vòm bom nguyên tử)

Thành phố Hiroshima là nơi đầu tiên trên thế giới bị ném bom nguyên tử. Nhưng do quá trình phục hồi rất nhanh nên hiện nay nếu bạn đi dạo trong các đường phố ở Hiroshima thì hầu như bạn sẽ không cảm nhận thấy những thiệt hại do bị ném bom nguyên tử.

Genbaku dome

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Genbaku dome (còn được gọi là Nhà tưởng niệm hòa bình Hiroshima) là một số ít các công trình kiến trúc được duy trì nguyên trạng tại thời điểm bị đánh bom. Người ta cố gắng giữ gìn để nó không bị hỏng giống như những ký ức về bi kịch không bị phai tàn theo thời gian. Và năm 1996 nó đã được ghi vào danh sách các di sản thế giới của Unesco.

Trước khi bị thiệt hại, nó có cái tên là “Trung tâm xúc tiến công nghiệp Hiroshima”, nó được sử dụng để làm nơi giới thiệu các sản phẩm nổi tiếng của Hiroshima. Năm 1945, do bị đánh bom nguyên tử nên các công trình xây dựng trong thành phố Hiroshima hầu hết bị phá hủy, nhưng phần khung thép có hình mái vòm (dome) ở phía trên của tòa nhà vẫn còn lại một cách kỳ diệu. Vì vậy nó đã được gọi là genbaku dome (mái vòm từng bị ném bom nguyên tử).

Genbaku dome2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hiện nay người ta cấm không cho vào khu vực bên trong toà nhà này nhưng chúng ta vẫn có thể nhìn thấy genbaku dome khi đứng bên bờ sông Motoyasu chảy qua trung tâm thành phố Hiroshima. Ngoài ra, tại “Công viên tưởng

niệm hòa bình” ngay cạnh genbaku dome còn có “Bảo tàng tưởng niệm hòa bình Hirohima” nơi truyền đạt lại cho thế hệ sau biết về bi kịch của những thiệt hại do bom nguyên tử, và “Đài tưởng niệm những người chết do bom nguyên tử” để tưởng niệm linh hồn của những người đã chết do bom nguyên tử.

2. Ngắm cảnh đẹp từ lâu đài Hiroshima

Nằm ở trung tâm thành phố Hiroshima, lâu đài Hiroshima rất ấn tượng với kiến trúc bên ngoài bằng gỗ được bao quanh bởi hào sâu. Bắt đầu xây dựng từ năm 1589, và phải mất 10 năm mới hoàn thành. Trong đại chiến thế giới thứ 2 nó đã bị phá hủy hoàn toàn do bom nguyên tử, nhưng sau đó đã được khôi phục lại và có hình dáng như ngày nay. Trong khuôn viên vẫn còn khu đất trống của tòa nhà đã được sử dụng trước kia và đền Gokoku Hiroshima.

lâu đài Hiroshima

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

lâu đài Hiroshima3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đền Gokoku Hiroshima, nằm trong khuôn viên lâu đài Hiroshima. Lâu đài của Nhật được xây dựng gồm một số công trình xây dựng như cổng, cột, nhà kho, nhà ở…Nhưng trong đó công trình xây dựng cao nhất trở thành biểu tượng của lâu đài được gọi là tòa tháp lâu đài. Tòa tháp lâu đài của lâu đài Hiroshima gồm 5 tầng, bên trong tòa tháp người ta trưng bày các tư liệu giới thiệu về lịch sử lâu đài Hiroshima và văn hóa các vùng xung quanh. Tầng cao nhất có đài thiên văn, ở đó chúng ta có thể nhìn thấy công viên xanh tươi trải rộng khắp thành phố Hiroshima.

  1. Ăn Okonomiyaki phong cách Hiroshima ở khu phố okonomiyaki

Okonomiyaki là món ăn của các địa phương phía Tây, vùng Kansai của Nhật bản. Đây là món ăn dân dã được làm bằng cách kết hợp giữa bột mỳ đã được hòa tan bằng nước và các nguyên liệu khác rồi nướng. Được biết đến là đặc sản của tỉnh Hiroshima với các tên gọi khác nhau như “okonomiyaki”, “okonomiyaki phong cách Hiroshima”, “Hiroshimayaki”. Thành phố Hiroshima có tới gần 900 cửa hàng okonomiyaki, vì vậy đối với khách du lịch thì việc tìm ra quán ăn ngon là rất khó khăn. Khi đó, tiện nhất là chọn “khu phố okonomiyaki”.

Okonomiyaki3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nằm tại trung tâm thành phố Hiroshima, ở đây tập hợp 24 cửa hàng bán món okonomiyaki phong cách Hiroshima, nằm trên 3 tầng của tòa nhà từ tầng 2 đến tầng 4. Có 4 cửa hàng phục vụ menu tiếng Anh. Nhiều cửa hàng đặt các chảo nướng bằng thép tại quầy để họ làm món ăn ngay trước mặt khách.

Okonomiyaki2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Okonomiyaki

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đây là món okonomiyaki có hương vị của nước sốt rất dậy mùi, với số lượng rất hợp lý và có cả mỳ ở giữa. Đây là một món ăn mà tôi nhất định phải ăn khi đến Hiroshima.

4 .Lên“Tàu điện Hiroshima” xinh xắn, hoài cổ

Đối với người dân Hiroshima thì phương tiện giao thông không thể thiếu trong đời sống hàng ngày đó là “Tàu điện Hiroshima” và tên thường gọi là Hiroden. Đây là tàu điện chạy trên tuyến đường thông thường trong thành phố Hiroshima, và nó không chỉ chạy qua các điểm thăm quan như genbaku dome và lâu đài.

Tàu điện Hiroshima

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hiroshima mà nó còn đưa chúng ta đến điểm để lên phà Miyajima nổi tiếng ở đền Itsukushima. Tàu này hoạt động từ sáng cho đến đêm khuya với tần suất lớn vì vậy nó được sử dụng như một phương tiện đi lại của khách du lịch một cách tiện lợi.

Ở tuyến đường sắt Hiroshima, loại xe điện hoài cổ đã được sử dụng trên 30 năm vẫn đang hoạt động, vì vậy bạn sẽ được ngồi trên xe điện với tâm trạng như thời gian đã ngủ quên.

  1. Hãy cùng thử con hàu, đặc sản của Hiroshima.

Lượng sản xuất hàu của Hiroshima đứng số một Nhật bản. Tỉnh Hiroshima được bao quanh bởi vùng biển Seto và nhiều ngọn núi thiên nhiên phong phú, vì vậy hàu của Hiroshima rất nhiều dinh dưỡng, phần thân hàu thì dầy thịt, khi ăn cảm giác rất ngọt và tươi là đặc trưng của hàu vùng này.

hàu của Hiroshima 2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thông thường thì người ta ăn hàu sống hoặc ăn lẩu nhưng món hàu nướng ở Hiroshima rất được ưa chuộng. Người ta để nguyên cả vỏ và nướng trên than hoa chừng 10 phút. Chúng tôi khuyên bạn nên ăn cùng với chanh, một đặc sản của Hiroshima vì nó rất là hợp.

Con hàu ăn nướng so với ăn sống thì mùi thơm hơn mà vị cũng ngon hơn. Và ngay cả với những ai không thích hải sản sống thì cũng có thể thưởng thức món hàu nướng một cách ngon lành, vì vậy các bạn nhất định phải ăn thử đấy nhé!

Nói đến tỉnh Hiroshima thì có địa danh Miyajima và đền Itsukushima rất nổi tiếng, nhưng ngay trong thành phố Hiroshima thôi cũng có rất nhiều nơi thăm quan rất thú vị và nhiều chỗ ăn ngon. Vì vậy nếu bạn đến Hiroshima thì nhất định hãy ghé thăm thành phố Hiroshima nhé!

7 món ăn lạ ở Kyushu bạn nên thử

Kyushu là thủ phủ miền nam Nhật Bản, nơi có các loại sushi độc đáo, những đặc sản địa phương giàu giá trị dinh dưỡng và mang đậm nét văn hóa ẩm thực truyền thống của đất nước mặt trời mọc.

Kyushu, tên chữ Hán là Cửu Châu, nghĩa là đất của 9 Châu (đơn vị hành chính xưa giống như quận huyện). Đây là mảnh đất có khí hậu ấm áp, có nhiều mối giao thương trong lịch sử với vùng lục địa như Triều Tiên, Trung Quốc và cả Việt Nam nữa. Vùng này hơi xa các kinh đô cũ ở miền Trung nước Nhật nên vẫn giữ được nhiều nét bản sắc địa phương về mặt văn hoá và ẩm thực.

Đến Kyushu, du khách không thể nào bỏ qua các đặc sản địa phương ở đây. Ở Kyushu có những quán ăn nhỏ, chuyên về đặc sảc địa phương và cũng đặc sệt một dạng quán ăn Nhật truyền thống. Các cửa hàng ăn ở Kyushu, kể cả quán ăn bình dân nhất cũng rất sạch sẽ và chuẩn hoá. Các món ăn được lượng hoá đến từng gam, giá tiền đề rõ ràng lại còn trưng bày ảnh mẫu từng món khá bắt mắt, giúp cho du khách chọn lựa khỏi lầm, hợp khẩu vị và cũng đỡ mất thời giờ.

1. Cá Kibinago:
Món đặc sản ở Kyushu là cá Kibinago chỉ có ở trong vùng, dài khoảng 7-8cm. Món cá này được thái cực mỏng, ăn sống với giấm hay một loại nước tương được pha chế đặc biệt.

Cá Kibinago

2. Trứng cá tuyết:

Vùng Kyushu còn có một món ăn nữa khá đặc biệt, có tên gọi là món trứng cá tuyết, trộn với nước sốt ớt đỏ nổi tiếng toàn Nhật Bản.

Trứng cá tuyết

3. Sashimi gà:

Đây là món thịt gà còn sống, tươi nguyên, chặt nhỏ ra từng miếng. Chỉ chọn phần thịt lườn, nạc và chấm với nước chấm đặc biệt của vùng chế biến từ thảo quả hay mù tạt.

Sashimi gà

4. Basashi:

Đây là món sashimi thịt ngựa. Đối với các du khách nước ngoài là món ăn kinh dị, nhưng với người Nhật Bản thì Basashi là một món ăn truyền thống khoái khẩu, món Basashi cũng giống như các món gỏi của Việt Nam. Ngựa sau khi làm thịt đầu bếp sẽ chọn ra những thớ thịt ngon rồi cắt lát mỏng. Vài lát chanh khiến món thịt ngựa có vị chua và khi thưởng thức được mềm hơn. Món thịt ngựa sống thưởng thức theo cách ăn của người Nhật Bản thường được ăn kèm với gừng, tương trộn cay, mù tạt, sẽ ra một hương vị đặc trưng riêng.

Basashi

5. Fugu:

Fugu (cá nóc) là một trong các đặc sản nổi tiếng của đảo Kyushu nói riêng và ẩm thực Nhật Bản nói chung. Loại cá này sinh trưởng khá tốt vào mùa đông.
Bất chấp những nguy cơ tiềm ẩn từ món ăn nguy hiểm này, khách du lịch Nhật Bản vẫn luôn muốn thưởng thức bởi hương vị hảo hạng mà chỉ ở Nhật mới có được. Tại các nhà hàng Nhật Bản, các món fugu có giá từ 100 đô la Mỹ trở lên, tuy nhiên ở các nhà hàng bình dân thì giá rẻ hơn, chỉ từ 20 đô la Mỹ. Cá nóc được chế biến thành nhiều món ăn đa dạng, trong đó cá nóc sống là cao cấp nhất và được trình bày vô cùng tinh tế.
Ở Nhật, chỉ những đầu bếp đẳng cấp mới được chế biến fugu bởi nguy cơ nhiễm độc từ gan cá sang các phần thịt khác là rất cao, đòi hỏi đầu bếp được đào tạo và có nhiều kinh nghiệm.

Fugu

6. Kanzaki Somen

Somen là một loại mì rất mảnh được làm từ bột mì và nước muối. Somen được tạo hình bằng cách kéo giãn bột như một số loại mì Udon, và quá trình làm mỏng và kéo dài các sợi mì cần phải qua tới 30 bước khác nhau trong 36 giờ đồng hồ. Sau đó, mì còn phải giữ trong kho 1 đến 2 năm để chín và ngấu rồi mới được mang ra ăn. Kanzaki somen thường dùng lạnh, chan với nước đá kèm theo chút rau xanh, các loại củ quả hay các loại thịt khác nhau và chấm với một loại nước chấm nhạt gọi là tsuyu. Tsuyu là một loại nước chấm làm từ katsuobushi (một loại cá ngừ khô) có thể được pha thêm hương vị hành ta, gừng hoặc myoga. Vào mùa hè, mì somen ướp lạnh được xem là một món ăn giúp “giải nhiệt cuộc sống”. Ngoài ra, Món mì somen còn được trình bày và thưởng thức một cách cầu kì với rất nhiều hương vị khác nhau tuỳ thuộc vào khẩu vị thực khách.

Kanzaki Somen

7. Trứng sống trộn cơm:

Đây là một trong những món bình dân nhưng cũng khá lạ với du khách khi đến Kyushu. Đó là món trứng sống trộn cơm. Cơm thật nóng còn nghi ngút khói xới ra, đập ngay quả trứng vào rồi trộn đều thật nhuyễn, thế là có ngay món cơm trộn trứng bổ dưỡng mà lạ miệng.

Trứng sống trộn cơm

Sinh viên Việt Nam đổ xô du học, làm việc tại Nhật Bản

Gần đây Nhật Bản đang tích cực tuyển sinh viên từ các nước trong khu vực Đông Nam Á với hi vọng việc này sẽ giúp tăng cường quan hệ kinh tế giữa họ với các quốc gia khu vực trong tương lai. Đông Nam Á là điểm đến đầu tư và cũng là nguồn tài năng quan trọng của Nhật.

Người Việt Nam đặc biệt được chú ý. Theo Tổ chức Dịch vụ Sinh viên Nhật Bản, số sinh viên, học sinh người Việt học tập tại Nhật, kể cả học ở các trường ngoại ngữ, tăng hơn 12 lần trong sáu năm qua tính đến tháng 5.2016, đạt mốc 54.000 người. Hiện số người Việt chiếm gần 1/4 số sinh viên quốc tế ở Nhật, chỉ xếp sau Trung Quốc vốn chiếm 41%.

cac-ban-du-hoc-sinh-tai-truong-nhat-ngu
                                                cac-ban-du-hoc-sinh-tai-truong-nhat-ngu

Nhật Bản và Trung Quốc đều tìm kiếm vai trò lớn hơn ở Đông Nam Á, nơi kinh tế đang tăng trưởng nhanh và tầng lớp trung lưu mở rộng. Đông Nam Á cũng có nhu cầu cơ sở hạ tầng mạnh. Đầu tư của Nhật Bản vào khu vực tăng lên trong thời gian gần đây vì căng thẳng chính trị cùng nền kinh tế giảm tốc khiến Đại lục hạ sức hút.

Nhật Bản đặt ưu tiên tuyển thêm sinh viên từ các nước ASEAN. Đơn cử, học bổng của chính phủ Nhật Bản đã giúp bà Tran Thi Quynh My, một nhân viên tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trang trải chi phí học tập tại Nhật cho hai con“
Tôi chọn Nhật Bản vì nước này ít đắt đỏ hơn các nước khác nhưng lại có hệ thống giáo dục tốt, kỷ luật học sinh. Sau khi học tại Nhật, con tôi có nhiều cơ hội hơn khi trở lại làm việc tại Việt Nam vì ngày càng có nhiều doanh nghiệp Nhật đầu tư vào đất nước chúng tôi”, bà My chia sẻ.
Kinh tế Việt Nam tăng trưởng hơn 6% năm 2016, giúp đất nước trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới. Nhiều hãng Nhật ngày càng quan tâm đến Đông Nam Á, nơi thu nhập và tiêu dùng có xu hướng đi lên, nhà kinh tế Shinobu Kikuchi tại Viện Nghiên cứu Mizuho cho biết.

Nhật Bản đã là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam, sau Trung Quốc, Mỹ. Thương mại song phương tăng đến mức khoảng 30 tỉ USD năm 2016, gần gấp đôi so với mức 16,8 tỉ USD năm 2010, theo số liệu chính thức từ Việt Nam. Hai nước muốn thúc đẩy thương mại song phương lên 60 tỉ USD năm 2020. Nhật cũng là nhà đầu tư lớn thứ nhì với tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 42,5 tỉ USD tính đến tháng 3.

Trước đây, nhà sản xuất Nhật bước vào Việt Nam vì muốn tìm kiếm lao động giá rẻ, song trong những năm gần đây, thị trường phát triển khiến nhiều hãng khác, chẳng hạn như nhà bán lẻ, cũng rục rịch vào Việt Nam. Doanh nghiệp Nhật tìm kiếm nhân viên có trình độ, người có khả năng thông thạo ngôn ngữ và vượt rào cản về văn hóa doanh nghiệp, theo chuyên gia Keisuke Kobayashi, người giám sát kinh tế Việt Nam tại Tổ chức Thương mại Nước ngoài Nhật Bản.

hinh-anh-du-hoc-sinh-viet-nam
                                             hinh-anh-du-hoc-sinh-viet-nam
Số lượng doanh nghiệp Nhật đi lên là lý do khiến nhiều bậc phụ huynh và các sinh viên xem xét khả năng học tập tại Nhật Bản. Họ kỳ vọng tìm được công việc trả lương cao tại một công ty của quốc gia Đông Á, Giám đốc Itsuro Tsutsumi của Sở Trao đổi sinh viên Jasso cho biết: “Họ kỳ vọng cao. Gia đình cho họ đi du học như là một cách đầu tư với kỳ vọng sẽ thu được lợi nhuận lớn”, ông Tsutsumi nói. Dù vậy kỳ vọng trên có thể bị lạm dụng. Trong tháng 4, Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam cảnh báo rằng số lượng sinh viên, thực tập sinh Việt Nam ở Nhật tăng lên cũng khiến nợ leo cao vì họ phải trả khoản tiền lớn cho các hãng môi giới, các bên không trung thực khi tư vấn về cơ hội việc làm.
Nguồn : Báo Thanh Niên

Món ăn nổi tiếng vùng Okinawa

Khác với sự hiện đại của Tokyo, quần đảo Okinawa thu hút nhiều du khách ghé thăm khi đi du lịch Nhật Bản nhờ vào vẻ đẹp thiên nhiên và không khí yên bình. Cuộc sống của người dân trên đảo khá đơn giản, không bon chen như những thành phố phát triển khác. Do vậy khách du lịch sẽ cảm thấy được sự thoải mái, tự do khi dừng chân nghỉ dưỡng tại nơi này. Ngoài ra thì còn có cơ hội thưởng thức những món đặc sản phổ biến ở Okinawa rất hấp dẫn, độc đáo.

  1. Bánh rán Okinawa

Từ loại bánh rán truyền thống của Mỹ, người dân trên đảo đã biến đổi khác đi để làm ra loại bánh rán Okinawa. Chúng có hình dạng như 1 quả bóng nhỏ, bên trong chứa khoai lang tím, đường nâu và bên ngoài thì rắc thêm mè đen, dừa khô. Loại bánh này được bán nhiều trong các quán hàng rong bên đường. Nếu vào nhà hàng hay quán cà phê sang trọng thì du khách sẽ thấy bánh rán Okinawa được ăn chung với kem.

Banh ran Okinawa

   2. Rafute

Rafute là một món đặc sản được chế biến từ thịt heo. Để làm món này, thịt rọi được cắt miếng to rồi luộc chín mềm, nấu trong nước tương hay nước luộc cá, chấm cùng mù tạt.

Rafute

 

 3.Khoai lang tím

Khoai lang tím là một loại thực phẩm rất tốt cho sức khoẻ nên người dân Okinawa đã sử dụng nó để chế biến thành những món ăn khác nhau trong nhiều thế kỷ qua. Du khách sẽ thấy có những cửa hàng chỉ dành riêng để bán khoai lang tím. Từ kem khoai lang, khoai lang sấy, khoai lang chiên cho đến nhiều loại bánh khoai lang. Và đây cũng là món quà mà nhiều du khách mua về tặng bạn bè sau chuyến du lịch Nhật Bản.

Khoai lang tim

   

   4. Mì Soba Okinawa

Mì Soba luôn là một trong những món ăn mà du khách đều muốn thưởng thức khi đi du lịch Nhật Bản. Tuy nhiên thì không phải làm từ mì kiều mạch như các vùng khác, mì Soba Okinawa làm từ lúa mì trắng và thường nấu chung với thịt heo. Người ta cũng cho thêm hành lá, ớt, gừng để tăng hương vị của món ăn. Tuy đơn giản nhưng hương vị khá ngon, là món đặc sản phổ biến ở Okinawa mà khách du lịch nên ăn thử.

Mi Soba Okinawa

   

     5. Đường nâu

Đường nâu là một trong những đặc sản ở Okinawa được khách du lịch tìm mua rất nhiều. Vì nó làm từ cây mía trồng ở vùng giàu khoáng chất nên hàm lượng sắt, canxi và kali sẽ cao hơn. Người dân địa phương luôn sử dụng đường nâu để làm các loại bánh kẹo cũng như là gia vị của các món ăn. Ngoài ra thì du khách cũng có thể ăn nó dưới dạng những viên đường nhỏ trong trường hợp mệt do thiếu máu.

Đuong nâu

   

     6. Rong biển Mozuku

Là đất nước biển đảo nên Nhật Bản sử dụng rất nhiều loại rong biển khác nhau để chế biến món ăn. Và rong biển Mozuku là một loại rong biển có thớ, được người dân ở Okinawa ngâm với hạt mè. Du khách sẽ thấy món này thường phục vụ ăn chung với tôm chiên Tempura. Ngoài ra thì cũng có món súp rong biển Mozuku hay mì rong biển Mozuku.

rong-bien-Mozuku

7. Rượu gạo Awamori

Awamori là một loại rượu gạo có nồng độ cồn cao do người địa phương trên đảo Okinawa chưng cất. Tuy nồng độ có thể lên tới 80% nhưng hương vị của rượu Awamori lại khá dịu, không gắt và có mùi thơm nhẹ. Trong các buổi tiệc thì luôn xuất hiện loại rượu này nhưng được pha loãng với nước để giảm độ cồn. Bên cạnh đó thì người dân còn sử dụng rượu Awamori với đường nâu để ngâm mận, chế biến thành rượu mận có hương vị ngọt ngào nhưng độ cồn thì ít hơn rất nhiều.

ruou gao Awamori

5 vùng có đặc sản nổi tiếng nhất Nhật Bản

Nếu bạn đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản thì không thể không thưởng thức những món ăn mà Hinode giới thiệu dưới đây. Bạn nào chưa biết thì hãy lưu lại thông tin để sau này thưởng thức dần nhé.


Đặc sản vùng Tohoku

Món Ichigo-ni – một món súp của bờ biển Thái Bình Dương, vùng Aomori, gồm có trứng của loài cá cầu gai và bào ngư.

Món Jappa-jiru (hay còn được gọi là zappa jiru) là món súp ruột cá (thường được chế biến bằng cá hồi hoặc cá tuyết cùng với các loại rau. (vùng Aomori và Akita).

Món Senbei-jiru là món súp nước đậu nành, gồm có bánh gạo và rau (đặc sản của khu Hachinohe)  Món Wanko-soba là món mì soba được ăn trong một chiếc tô tí hon và liên tục được tiếp thêm cho đầy tô.

Món Morioka reimen là một phiên bản của món mì lạnh Bắc Triều Tiên naengmyeon, được dùng phổ biến bởi người nhập cư Hàn Quốc. (tại thành phố Morioka).

Món Harako-meshi được chế biến từ gạo nấu trong nước đậu nành và cá hồi, sau đó trứng cá hồi sẽ được đặt lên bề mặt món ăn.

Món Kiritanpo – gạo giã nhuyễn bọc vào một chiếc que rồi đem nướng bên bếp than. Nó được ăn với nước tương miso cùng với gà và rau như món lẩu nabemono.

Món Dondon-yaki là món bánh xèo okonomiyaki bọc quanh que gỗ để cầm ăn (đặc sản ở thành phố Yamagata và Sendai).

Món Gyutan được chế biến từ lưỡi bò. Thường nướng từ tái đến chín, hoặc ăn sống theo kiểu phong cách sashimi  (món này bắt nguồn từ thành phố Sendai).

anh 3

anh 4

Đặc sản vùng Chubu và Kanto

Món Inago no tsukudani – Inago (một loại châu chấu) được hầm trong nước tương ngọt (ở các làng xã nông thôn trên các đảo lớn vùngYamagata, Nagano và Gunma).

Món Hoto – mì udon được nấu trong nước súp tương đậu nành miso có các loại rau củ như bí đỏ hoặc khoai tây, và các loại nấm và đôi lúc có cả thịt. Món này thường được ăn trong tô đúc bằng sắt.

Món Monjayaki là một loại bánh áp chảo tương tự như bánh xèo okonomiyaki nhưng mềm hơn và được ăn ngay sau khi nướng trên một cái khay bằng kim loại. Món này bắt nguồn từ khu sinh sống của dân lao động ở Tokyo. Đây là món ăn quê hương gợi nhớ nhiều cho những người thân trở về thăm quê nhà. Món Yanagawa nabe và dojō nabe là một món lẩu nabemono nấu với cá chép trong một cái nồi. Bào gồm có củ ngưu bàng và trứng. (được bắt nguồn từ khu sinh sống của dân lao động ở Tokyo)

Sushi – loại “sushi” được biết đến hiện nay trên thế giới thực chất ra là loại sushi có tên edo-mae-zushi (nghĩa là sushi vịnh Edo) nó được ra đời vào những năm 1820 ở Edo (Tokyo).

Món Masuzushi là loại sushi gồm có cá trout (một loại cá hồi) gói trong lá tre rồi được đem hấp, đặt lên một chiếc khay hình tròn có đường kính khoảng 6 inch.

Món Jibu-ni được chế biến từ những miếng thịt gà hoặc vịt bọc bột và hầm với mì căn, cùng với các loại rau, nấm dùng với nước dùng dashi đậu nành (đặc sản vùng Ishikawa)

Miso nikomi udon – Mì udon nấu trong nước dùng có vị Hatcho-miso (đây là loại tương miso được làm tại khu Hatcho, từng là sản vật được Hoàng đế Nhật bản thời Minh Trị chọn dùng hàng ngày). Đây là đặc sản của vùng Nagoya.

Món Miso-katsu – tonkatsu là những miếng thịt heo chiên xù cùng với sốt làm từ tương miso (bắt nguồn từ Nagoya)

Món Kishimen – một loại mì udon dẹt của vùng Nagoya

Tekone-zushi là một loại sushi được chế biến từ các lát cá ngừ sống được nhúng trong nước sốt có vị nước tương và đặt trên bát cơm (có trộn giấm), rắc thêm những sợi rong biển nori và một số thứ khác (bắt nguồn từ phía nam bán đảo Shima ở vùng Mie).

anh 6

anh 8

Đặc sản vùng Kansai và Chugoku

Món Yudofu là đậu hũ nhúng nước tảo bẹ kombu và được ăn cùng với nhiều loại nước chấm khác nhau. (Kyoto)

Món Okonomiyaki là một loại bánh áp chảo mặn với bắp cải, thịt hoặc hải sản, nêm sốt worcestershire kiểu Nhật và mayonnaise.

Món Kibi dango bắt nguồn từ vùng Kibi của Okayama.

Món Demi-Katsu – loại katsudon đặc sản của Okayama, dùng sốt demiglace (loại sốt của Pháp).

Món Horumon – đặc sản ở Tsuyama, tỉnh Okayama

Món Takoyaki – Viên nhân mực lăn bột nướng. Bắt nguồn từ Osaka và nay phổ biến trên khắp Nhật Bản.

Món Izumo soba là một loại mì soba nổi tiếng ở Izumo, ShimaneDote-nabe – lẩu nabemono gồm có hàu, đậu hũ và các loại rau nấu trong nước dùng có tương miso. ( bắt nguồn từ tỉnh Hiroshima)

Món Fugu rất nổi tiếng ở Shimonoseki, tỉnh Yamaguchi

Đặc sản vùng Shikoku

Món Sanuki udon – mì udon là một trong những món ăn nổi tiếng ở vùng Sanuki phía đông bắc Shikoku, và loại mì udon sản xuất ở đây nổi tiếng khắp đất nước.

Món Sawachi ryori – sashimi, sushi loại truyền thống; nhưng ngày nay các món này được bày trí trên đĩa lớn được gọi là “sawachi”. (bắt nguồn từ tỉnh Kochi)

Món Katsuo no tataki – cá ngừ vằn (tên khoa học: Katsuwonus pelamis) cắt nhỏ trộn với hành lá cắt nhuyễn và nêm giấm gạo. ( bắt nguồn từ tỉnh Kōchi, món này được nấu với lát cá ngừ vằn hơ lửa)

Món Sudachi – đây là một loại chanh nhỏ, nước chanh và vỏ chanh bào được trộn vào món cá ở vùng Tokushima khiến cho món cá có vị của mùa hè rất đặc trưng ở vùng Tokushima.

anh 11

anh 12

anh 10

Đặc sản vùng Kyushu

Món Mizutaki – một loại lẩu nabemono có gà, và các loại rau nấu cùng với nước chấm có vị một trong các loại cây thuộc họ chanh (tên nước chấm là ponzu. (tỉnh Fukuoka)

Mì ramen Hakata-ku – mì ăn với nước dùng tonkotsu (làm từ xương lợn) với các loại nguyên liệu đặc trưng được bày lên mặt tô như: dưa gừng chua beni shoga, hạt vừng và các loại dưa chua khác. Các quán ăn đêm (Yatai) ở Hakata và khu Tenjin ở Fukuoka rất nổi tiếng với món này. Nhiều nhà hàng mở thêm các chi nhánh gọi là kaedama (替かえ玉だま), nơi mà sau khi ăn, khách có thể gọi thêm ít mì để ăn tiếp với phần nước mì còn lại. Dịch vụ này nay đã trở nên phổ biến khắp Nhật Bản.

Món Motsunabe – một loại lẩu ăn với những phần thường bị bỏ đi của bò hoặc lợn. (bắt nguồn từ Fukuoka)

Món Mentaiko trứng cá cay (bắt nguồn từ Fukuoka)Món Champon – một món mì có hải sản và các loại rau. ( bắt nguồn từ Nagasaki)

Món Castella – bánh xốp ngọt hình chữ nhật được người Bồ Đào Nha đưa đến Nagasaki vào thế kỷ 16. Giờ đây đã nổi tiếng khắp nước Nhật. (Nagasaki)

Gà namban – gà lăn bột chiên chấm trong nước sốt vị giấm, ăn kèm sốt tartar. (đặc sản tỉnh Miyazaki)

Món Dango-jiru – một loại mì làm từ lúa mì nấu trong nước súp có vị nước tương hoặc tương miso, cho thêm vào các loại rau, thịt lợn và các loại nấm ăn được (gọi là shimeji)

Món Kakuni – thịt ba chỉ hầm trong nước dùng nêm nước tương ngọt cho đến khi miếng thịt mềm (bắt nguồn từ Kagoshima)

Món Tonkotsu – thịt ba chỉ và sườn hầm trong nhiều giờ với thạch mềm konnyaku, cùng với củ cải trắng, trong nước dùng có tương miso, đường nâu và rượu shochu. Món này thường thấy ở các quán rượu nhỏ izakaya và trong các bữa ăn trên tàu lửa ekiben ở khu Kagoshima.

Sake-zushi – một loại sushi dùng rượu sake pha vào gạo chứ không phải giấm gạo. Đựng trong một cái thớt gỗ, trên bề mặt có tôm,cá tráp biển, bạch tuộc, nấm hương, măng và trứng chiên thái sợi.

Món Tori-ten – gà tẩm bột chiên chấm trong nước tương pha. (Oita)

anh 14

anh 15

Đặc sản vùng Okinawa

Món Chanpurū – món xào kiểu Okinawa.

Goya chanpuru – goya (quả khổ qua) xào với các loại rau cùng với đậu hũ hoặc thịt trong đồ hộp hiệu Spam, thịt xông khói, thịt ba chỉ thái mỏng hoặc cá ngừ đóng hộp.

Món Tofu chanpuru – đậu hũ cứng kiểu Okinawa xào với rau, và thịt hộp hiệu Spam, thịt xông khói, thịt ba chỉ thái mỏng hoặc cá ngừ đóng hộp.

Món Naaberaa chanpuru là chanpuru nấu với mướp.

Món Rafute – thịt ba chỉ hầm.

Món Soki – sườn lợn hầm.

Món Okinawa soba – một loại mì giống như mì udon, được bày soki trên bề mặt (“soki-soba”).

Món Naaberaa Nbushii – mướp xào vị tương miso.

Món cơm Taco (tako-raisu) – ra đời vào những năm 1960. Thịt taco (là một món ăn Mê hi cô) cùng với một phần cơm và sà lách, cà chua, dưa chuột và tưới nước sốt Mê hi cô lên trên.

anh 17

Hồ sơ chuẩn bị khi đi du học Nhật Bản

                                        CHUẨN BỊ HỒ SƠ KHI ĐI DU HỌC NHẬT BẢN

 

Chuẩn bị hồ sơ cho việc đi du học là vô cùng quan trọng đối với các bạn sinh viên, bộ hồ sơ đó sẽ quyết định bạn có thể đi du học được hay không. Vì vậy với bất kỳ ai có dự định đi du học NHẬT BẢN luôn luôn phải chuẩn bị thật tốt mọi loại giấy tờ liên quan đến bản thân.

Hinode  tự hào là đơn vị chuyên tư vấn du học Nhật Bản uy tín tại Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung. Hinode đã tư vấn và hoàn thiện thủ tục hồ sơ cho rất nhiều bạn du học sinh, hôm nay chúng tôi chia sẻ với bạn những giấy tờ cần hoàn thiện để có thể đi du học Nhật Bản.

sfsfsfsfsf

  1. GIẤY TỜ CÁ NHÂN

* Tất cả các loại giấy tờ photo phải photo trên mặt giấy trắng A4 và nhớ là photo 1 mặt, không được photo 2 mặt. ( thời gian công chứng không được quá 3 tháng)

*  Số lượng ảnh 4,5 x 4,5 (2 chiếc), 4×6 (2 chiếc) và Ảnh 3×4  (10 chiếc)

Tổng số lượng ảnh: Tổng 14 chiếc

P/S: Áo trắng, phông trắng, đầu tóc chỉnh tề

  1. BẰNG CẤP

* Bằng cấp cao nhất ( nếu có) + bảng điểm ( bản gốc)

* Bằng cấp 3, giấy tốt nghiệp tạm thời + học bạ ( bản gốc)

* Nếu học sinh học liên thông thì cũng phải nộp kèm them bằng và bảng điểm cấp dưới

* Nếu đang là sinh viên các trường đại học, cao đẳng thì phải có giấy xác nhận đang là sinh viên học tập tại trường ( bảng điểm)

  1. GIẤY KHAI SINH CỦA HỌC SINH VÀ NGƯỜI BẢO LÃNH (bố hoặc mẹ)

* CMND Học sinh

– Photo công chứng ( 2 bản) lưu ý: photo 2 mặt vào cùng 1 tờ giấy, không được cắt gọt, để nguyên tờ A4

– Photo phải rõ mặt, rõ số cmnd và địa chỉ

* CMND Phụ huynh ( người bảo lãnh)

– Photo công chứng ( 2 bản) lưu ý: photo 2 mặt vào cùng 1 tờ giấy, không được cắt gọt, để nguyên tờ A4

– Photo phải rõ mặt, rõ số cmnd và địa chỉ

* lưu ý: thời hạn đăng ký CMND không được quá 15 năm

qcwqcqwwq

  1. SỔ HỘ KHẨU GIA ĐÌNH

* Hộ khẩu gồm có: có thông tin du học sinh, có thông tin phụ huynh ( người bảo lanh)

Nếu học sinh không chung hộ khẩu với người bảo lãnh thì phải nộp cả 2 hộ khẩu. ( 2 bản photo, hoặc bản gốc)

  1. MỘT SỐ GIẤY TỜ CỦA NGƯỜI BẢO LÃNH

* Nếu gia đình người bảo lãnh có kinh doanh thì nộp giấy phép kinh doanh

* Với công nhân, nhân viên: Xác nhận công việc + bảng lương

* Với hộ làm nông nghiệp:Sổ đỏ nhà đất hoặc chứng nhận quyền sử dụng đất

  1. HỘ CHIẾU CỦA HỌC SINH

* Bản gốc ( nếu có rồi thì nộp luôn nếu không có thể bổ sung sau)

  1. ĐƠN, GIẤY XÁC NHẬN CỦA DU HỌC SINH ( nếu đã từng đi làm)

* Do công ty đã làm ký và đóng dấu

  1. MỘT SỐ GIẤY TỜ KHÁC ……( NẾU CÓ)

*  Giấy xác nhận năng lực tiếng Nhật (NAT-TEST, JLPT, JTEST, TOPJ, ,…cấp N1~5) ( NẾU CÓ)

Bản gốc + giấy tờ đi kèm ( nếu có)

  1. DÀNH CHO TU NGHIỆP SINH VỀ NƯỚC

*  Chứng nhận hoàn thành khóa đào tạo Tu Nghiệp Sinh ( bản gốc hoặc công chứng)

*  Hợp đồng với Tu nghiệp sinh ( bản gốc hoặc công chứng)

 

Cơm hộp Nhật Bản & những điều bạn chưa biết

Cơm hộp Bento Nhật Bản có lẽ không còn xa lạ gì đối với những ai yêu thích ẩm thực Nhật Bản, Bento là hộp cơm ăn trưa được những người phụ nữ Nhật Bản chuẩn bị cho chồng hoặc con của mình, với những món ăn riêng biệt, và nhiều lớp để chứa cùng lúc nhiều món ăn có hương vị khác nhau 1 cách hoàn hảo. Đối với người Nhật, hộp cơm Bento được trình bày đẹp mắt bao nhiêu thì thể hiện tình cảm của người chuẩn bị hộp cơm càng lớn. Chỉ cần search trên Google cụm từ “cơm hộp bento” là bạn đã có hàng trăm kết quả từ xuất xứ cho đến cách làm và các biến tấu khác của cơm hộp Bento rất đáng yêu. Bento là những hộp cơm nhỏ nhắn, thuận tiện di chuyển để phục vụ những bữa ăn nhanh của xã hội công nghiệp. Hãy cùng khám phá những điều thú vị xung quanh hộp cơm này để hiểu thêm về ẩm thực Nhật Bản.

Bento

Lịch sử ra đời và sự ảnh hưởng của bento với cuộc sống tại Nhật Bản

Bento ra đời vào cuối thời Kamakura (khoảng năm 1300). Qua những thăng trầm từ thời Edo và Meiji, đến thời Taisho (1912 – 1926), Bento đã đạt đến đỉnh cao nghệ thuật và là một nét đặc trưng của ẩm thực cung đình. Cơm hộp Bento có mặt trong hầu hết những hoạt động của đời sống quý tộc như những buổi tiệc trà, du ngoạn bên ngoài và đặc biệt là trong lễ hội ngắm hoa anh đào. Sau khi chế độ phong kiến ở Nhật suy yếu, đất nước bước vào thời kì mở cửa và nhất là sau thất bại trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Bento đã được bình dân hóa, trở thành món ăn phục vụ cho đời sống bận rộn của người dân. Ngày nay, cơm hộp Bento đã rất quen thuộc với người Nhật Bản. Bạn có thể thấy cơm hộp xuất hiện trong bữa ăn của học sinh, sinh viên, những công chức văn phòng cho đến tầng lớp lao động bình dân. Đây được coi là cách tiết kiệm thời gian nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ năng lượng trong đời sống công nghiệp hối hả của đất nước này.

Bento 1

Bento truyền thống

Shokado là một loại cơm hộp Bento Nhật Bản lâu đời và phổ biến hiện nay. Hộp cơm Shokado làm bằng gỗ sơn mài đen bóng, có viền hoặc hình vẽ trang trí màu đỏ. Nhìn bên ngoài, Shodako Bento rất bắt mắt và toát lên nét tinh tế, sang trọng. Hộp Shokado có nhiều ngăn để đựng riêng từng món cơm, thịt cá, rau xanh và súp. Những người lớn tuổi và tầng lớp trí thức Nhật rất chuộng loại cơm hộp này bởi nó thể hiện sự ngăn nắp ngay cả trong một bữa ăn đơn giản.

Bento 3

Bên cạnh Shodako Bento, Hinomaru là một kiểu Bento vô cùng đơn giản. Nó còn có tên khác là cơm quốc kì, vì hộp cơm Hinomaru chỉ có cơm trắng đi kèm một quả mơ muối đỏ tươi bên trên, trông khá giống với lá cờ Nhật Bản. Hinomaru bắt nguồn từ đời sống cực khổ của tầng lớp dân lao động bình dân, từ những năm tháng chiến tranh gian khổ và thời hậu chiến thiếu thốn của nước Nhật. Món cơm hộp này không chỉ là sự tiết giảm bậc nhất mà còn nhắc người dân Nhật Bản nhớ đến lịch sử của dân tộc mình, một khía cạnh đau thương mà vẫn rất đỗi oai hùng của xứ sở mặt trời mọc.

ben to truyen thong

Bento hiện đại

Những hộp cơm Bento hiện đại có vẻ đẹp rực rỡ và ngộ nghĩnh. Nghệ thuật cơm hộp của Nhật đã theo những hộp cơm đáng yêu này lan ra toàn thế giới. Bento hiện đại gồm hai loại:  Kyaraben (cơm hộp tạo hình những nhân vật nổi tiếng, dễ thương), và Oekakiben (cơm hộp được trang trí cầu kì, trông giống như một bức tranh phong cảnh).

bento hien dai

Trong hai loại này thì Kyaraben phổ biến và được giới trẻ yêu thích hơn cả. Những món ăn trong hộp cơm Kyaraben được tạo hình và trang trí thành các nhân vật nổi tiếng trong truyện tranh, hoạt hình, chương trình thực tế… như mèo máy đến từ tương lai Doreamon, cô mèo điệu đà Hello Kitty, Pokémon Pikachu xinh xắn hay thần rừng Totoro béo ú. Còn Oekakiben trông có vẻ mềm mại hơn nhưng sự cầu kì tinh tế lại rất cao. Từ những nguyên liệu quen thuộc, Oekakiben có thể tạo hình cơm trắng thành cánh đồng hay bầu trời, món trứng cuộn hay xúc xích thành những đóa hoa… tạo nên bức tranh thiên nhiên rực rỡ với đầy đủ 4 mùa xuân, hạ, thu đông.

com-bento-11

Bạn có thể bắt gặp cơm hộp Bento xuất hiện trong rất nhiều nền ẩm thực trên thế giới. Nhưng với riêng ẩm thực Nhật Bản, những  hộp cơm nhỏ bé dưới bàn tay tài hoa đã trở thành một nghệ thuật đỉnh cao về trang trí và trình bày món ăn. Vẻ đẹp của cơm hộp Bento Nhật Bản không chỉ có ý nghĩa giải trí mà còn thổi những màu sắc tươi mới vào bữa ăn vội vàng của đời sống công nghiệp bận rộn. Đây cũng là một cách để người dân Nhật Bản truyền tải cái đẹp văn hóa vào những khía cạnh bình dị nhất của cuộc sống.

Những tinh hoa trong nghệ thuật trình bày món ăn của người Nhật

Đất nước hoa anh đào vốn nổi tiếng bởi sự tinh tế, khéo léo và chuộng cái đẹp. Điều này được thể hiện rất rõ qua Nghệ thuật bài trí món ăn của người Nhật Bản ở đây.

Có thể nói sức hấp dẫn của ẩm thực Nhật Bản không phải bởi số lượng mà là sự sắp xếp, trưng bày các món ăn luôn “bắt mắt”, kích thích sự thèm ăn và sự phối hợp hài hòa giữa các món trên bàn ăn. Quả không sai khi nói rằng “Người Nhật ăn bằng mắt”.

nghe thuat trang tri1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ẩm thực Nhật Bản được cho là ẩn chứa một linh hồn và mang tính thẩm mỹ cao. Một bàn ăn Nhật Bản là “một bộ sưu tập” các món ăn với sự kết hợp hài hòa và khéo léo giữa nhiều yếu tố: tùy từng vùng miền, ẩm thực thay đổi theo mùa, nghệ thuật trình bày. Tính đặc trưng và hấp dẫn nhất của ẩm thực Nhật Bản chính là sự thể hiện một cách đầy đủ tính thẩm mỹ trong các món ăn qua các giác quan: thị giác, khứu giác, và vị giác. Trong đó, người Nhật có những quan niệm đặc trưng về ẩm thực như quan niệm “tam ngũ”: ngũ vị, ngũ sắc, ngũ pháp. Ngũ vị bao gồm: ngọt, chua, cay, đắng, mặn. Ngũ sắc có: trắng, vàng, đỏ, xanh, đen. Ngũ pháp có: sống, ninh, nướng, chiên và hấp.

nghe thuat trang tri8

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Một bữa ăn ở Nhật chưa thể gọi là bữa ăn nếu như chưa có đủ ba mặt: việc trình bày món ăn, bao gồm cả việc trang trí và hình thức bên ngoài, việc chọn đĩa hay các loại dụng cụ ăn và hương vị của chính món ăn đó. Sự hài hòa 3 yếu tố đó tạo nên một bữa tối đặc trưng của người Nhật. Bữa tối là bữa chính, bắt đầu bằng món khai vị là một ly nhỏ rượu sake, một loại rượu gạo lên men thường uống nóng. Bữa ăn được bày lên một bàn thấp, và người ngồi trên những chiếc gối kê trên nhà đã được trải nệm tatami.

bua toi

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bữa ăn thường gồm món hầm, món rau trộn, món chiên, món hấp hoặc món nướng, ăn với cơm hoặc cháo. Cơm là loại lương thực chiếm ưu thế trong mọi bữa ăn của người dân Nhật. Bên cạnh đó, rất nhiều loại mì cũng được yêu thích như mì Udon hay Soba, hoặc Tempura (đồ chiên).

tempura2

Những món ăn thường được chuẩn bị một cách đơn giản, nhưng hương vị và bản chất món ăn tạo một sự thanh nhã và phong phú đặc trưng kiểu Nhật. Một bữa tối thường thấy ở một gia đình người Nhật luôn gồm một bát cơm kèm với rau bina, củ cải hoặc dưa góp và canh Miso. Hoặc ăn cơm chỉ với Natto (hạt đậu nành ngâm) được trộn đều với hành lá cắt nhỏ và trứng sống. Các món ăn được dọn ra một lúc và ai muốn ăn món nào thì gắp món đó. Có người từng nói rằng, nhìn trên mâm cơm của Nhật Bản, ta có thể liên tưởng đến “có một chút gì đó của núi, và một chút gì đó từ biển cả”. Núi tượng trưng cho các loại rau ở nhiều địa phương cùng với món chính là gạo. Biển không gì khác hơn đó là nguồn hải sản, nhất là cá.
nghe thuat trang tri7

Trong khi chế biến thức ăn, người Nhật sắp xếp thức ăn theo cách làm cho màu sắc và bố cục hài hòa. Nhân tố  mỹ quan trong các trang bày món ăn Nhật chính là tái tạo lại thiên nhiên: “Món măng hấp trình bày trên đĩa như một mụt măng xúm xít dưới gốc tre… Món cá thu chiên y hệt như một dãy núi có cỏ mọc phía trên”. Món ăn trình bày sao cho màu sắc, hình dạng và nguyên liệu phải hài hòa với món ăn và mùa. Yếu tố mùa ảnh hưởng đến ẩm thực Nhật Bản không chỉ đơn thuần là “mùa nào thức ấy” mà chủ yếu là ở chỗ thức ăn phải phản ánh được cảm quan thiên nhiên của mùa đó. Chẳng hạn, thức ăn xếp trong bát hoặc đĩa phù hợp với từng mùa trong năm. Thủy tinh và trúc được xem là thích hợp vào mùa hè. Đĩa có hình dáng, kích thước và hoa văn tương phản để đạt được sự cân bằng mỹ học giữa thức ăn và đồ đựng. Nếu món ăn có hình tròn thường sẽ được trưng bày trong một loại đĩa hình vuông hay tam giác. Họ dùng nhiều loại đĩa bát với đủ mọi hình dạng khác nhau từ trước khi người phương Tây vượt qua được cái giới hạn chặt chẽ của mình đối với các loại đĩa tròn. Và trên mỗi đĩa thức ăn, thường người Nhật không để vun đầy thức ăn hết cả đĩa, mà chỉ là một góc nào đó để người ăn còn có thể thưởng thức được cả nét đẹp của vật dụng đựng nó.

nghe thuat trang tri3

Shashimi, sushi, cơm hộp bento không chỉ đơn thuần là ba món ăn mà nó còn chứa đựng cả một phần văn hóa Nhật Bản. Theo quan niệm của người Nhật thì những món này đem lại may mắn, hạnh phúc cho người thưởng thức. Chúng được coi như là biểu tượng của ẩm thực xứ sở Phù Tang.

Trong những ngày lễ truyền thống, Sushi xuất hiện trên bàn tiệc với đủ màu sắc, mùi vị. Có tới hàng trăm món Sushi khác nhau với hàng trăm cách thức chế biến cầu kì phức tạp. Đây là một loại cơm được trộn với giầm, kết hợp với các loại thức ăn như cá sống, trứng cá, rau củ. Các nghệ nhân làm Sushi ở các vùng khác nhau trên đất nước Nhật gói tay, cuốn hay đổ khuôn rồi cắt thành các lát vừa ăn vừa trình bày trên những chiếc đĩa tạo ra nhiều màu sắc tự nhiên và các hình thù phng phú ở giữa các lát cắt như hình bông hoa, con bướm hay con chuồn chuồn. Mỗi nghệ nhân trình bày theo phong cách riêng của mình và họ phải mất nhiều năm trời khổ luyện công phu để sáng tạo ra các món Sushi “ngon từ mắt ngon đi”. Ta có thể phân biệt và chia ra những loại Sushi như sau:

Temaki Sushi: cơm và thức ăn cuốn trong lá rong biển theo hình chiếc phễu nhỏ

Inari Sushi: cơm và thức ăn được cho vào một miếng đậu hũ

Nigiri Sushi: cơm được nắm thành vắt nhỏ, thêm ít wasabi ở giữa rồi xếp thức ăn

Makimono Sushi ( hay còn gọi là Sushi cuộn): phần cơm bao bọc thức ăn ở trong, và bên ngoài được cuộn 1 lớp rong biển rồi cắt thành từng lát để thưởng thức.

Gunkan Sushi: phần cơm được bao quanh bởi lá rong biển, thức ăn xếp trên mặt

Oboshi Sushi: đây là loại sushi bao gồm cơm nén lại với cả trong chiếc hộp bằng gỗ và phải dùng tay để nén lại.

Tuy có nhiều loại nhưng Sushi lại có chung một cách ăn là dùng kèm với nước tương, mù tạt và gừng ngâm chua. Gừng có tác dụng rửa sạch vị giác của bạn sau mỗi món Sushi nên bạn có thể thưởng thức nhiều loại Sushi khác nhau cùng một lúc.

nghe thuat trang tri5

Một trong những đỉnh cao của nghệ thuật bày biện món ăn này là bữa tiệc Nyotaimori, tiếng Nhật nghĩa là “ trang điểm trên cơ thể của một thiếu nữ”. Những miếng sushi sẽ được để lên khắp cơ thể của một thiếu nữ như đùi, chân, tay ngực, bụng….. Có một quy định bất thành văn về cách sắp xếp trên cơ thể của cô gái. Chẳng hạn, cá trình sẽ được xếp trên các bộ phận kín của cô gái vì theo quan niệm của người Nhật, cá trình ảnh hưởng đến khả năng tình dục. Cá hồi đặt ở vùng tim vì nó được xem như là thứ cung cấp sức mạnh cho người ăn… Tuy nhiên đấy là cách sắp xếp theo kiểu cổ truyền. Bây giờ người ta xếp Sushi chủ yếu là theo trang trí cho đẹp mắt ở từng bộ phận trên khắp cơ thể của cô gái. Mặc dù vẫn được ca tụng như là một trong những nghệ thuật ẩm thực đỉnh cao của Nhật Bản song  Nyotaimori giờ đây bị lên án khá nhiều. Phần vì do là thú vui chơi xa xỉ, quá tốn kém, phần vì nó hạ thấp nhân phẩm của người phụ nữ Nhật.

Theo truyền thống, thành phần chủ yếu của một Bento bao gồm cả “thức ăn trên rừng và dưới biển” nghĩa là gồm: gạo, cá, thịt, rau xào hoặc nấu và món tráng miệng (có thể là hoa quả) được sắp xếp theo tỷ lệ 4:3:2:1 (4 phần cơm, 3 phần thịt cá, 2 phần rau và 1 phần tráng miệng). Một nguyên liệu được yêu thích khác của Bento là một quả mơ Nhật hay Umeboshi được đặt ở giữa đĩa cơm để làm tăng mùi vị của cơm. Những nét đặc trưng trong văn hóa ẩm thực “xứ sở Phù Tang” sẽ được thể hiện trên từng hộp cơm Bento.

Bento

Bento thường được chuẩn bị rất tỉ mỉ và công phu, thông thường thức ăn sẽ được sắp xếp theo hình dạng rất cầu kỳ, màu sắc hài hòa, đặc trưng theo mỗi mùa khiến cho người ăn luôn ngạc nhiên, trầm trồ mỗi khi mở ra ăn. Đồ ăn được sắp xếp khéo léo trong từng ô nhỏ với nhiều hình dáng hoa văn đẹp đẽ, bắt mắt. Cách để nhắn gửi những thông điệp vào món ăn của người nghệ nhân là sắp xếp theo những hình ảnh, kiểu chữ, hay chỉ cần sắp xếp đẹp đẽ khiến món thêm ngon miệng hơn. Với người Nhật, một hộp cơm văn phòng hay bữa trưa “cặp lồng” ở trường học cũng được chuẩn bị kỹ càng, trau chuốt như một tác phẩm nghệ thuật vậy.

Từ những món ăn giản dị trong cuộc sống hàng ngày, dưới bàn tay khéo léo, óc thầm mỹ, người Nhật đã gửi vào đó cả tấm lòng và thể hiện được sự tinh tế trong tâm hồn khiến chúng trở thành những kiệt tác nghệ thuật có 1 không 2. Đây chính là điều làm nên sự khác biệt của ẩm thực Nhật Bản: món ăn tao nhã, màu sắc bắt mắt, hương vị tự nhiên nhẹ nhàng… để lại trong lòng người thưởng thức những ấn tượng mạnh mẽ, khó quên.

Bento2

 

LỄ HỘI HOA HƯỚNG DƯƠNG TẠI NHẬT BẢN

Tại Nhật Bản có rất nhiều lễ hội độc đáo diễn ra quanh năm:  lễ hội hoa anh đào , lễ hội Ninja , lễ hội ngắm hoa…..

Trong đó phải kể đến lễ hội hoa hướng dương tại tỉnh Kanagawa – tại đây có những cánh đồng hoa hướng dương vô cùng rộng lớn, mỗi khi mùa hè đến những bông hoa ở đây lại đua nhau khoe sắc thu hút đông đảo khách tham quan tới cuối tháng 7 đến giữa tháng 8. 

le-hoi-hoa-huong-duong-tai-nhat-ban

Lê hội hoa hưỡng dương được người Nhật gọi là Himawari Matsuri với 30 loại hoa hướng dương khắp thế giới quy tụ. Tại lễ hội khách tham quan được thưởng thức âm nhạc, ngắm pháo hoa, khám phá ẩm thực. Đặc biệt là các mặt hàng từ hướng dương như: hạt hướng dương, mì ống hướng dương, dầu hướng dương và đặc biệt là món bia hướng dương…

Hướng dương có xuất xứ từ Mỹ, chúng được đưa tới châu Âu trong thế kỳ 16 cùng với dầu hướng dương – trở thành món ăn phổ biến rộng rãi. Và mãi về sau đó, chúng mới được du nhập vào Nhật.

le-hoi-hoa-huong-duong-tai-nhat-ban2

Ngoài việc sử dụng để trang trí, hướng dương còn được sử dụng làm thức ăn cho gia súc và cung cấp sợi cho việc sản xuất giấy và để đặc biệt hoa hướng dương còn có thể trích xuất các thành phần độc hại trong đất, chẳng hạn như chì, thạch tín và uranium.

Khi tới tham gia lễ hôi ngăm hoa hướng dương, bạn cũng phải nên chú ý tuân thủ đầy đủ thủ tục ở đây, bởi vì người Nhật họ rất nguyên tắc chứ không lộn xộn dẫm đạp lên hoa, nếu bạn chấp hành nghiêm chỉnh thì việc ngắm hoa sẽ thuận lợi và tha hồ ghi lại khoảng khắc đẹp của những bông hoa mặt trời.