YATAI- ẨM THỰC ĐƯỜNG PHỐ NHẬT BẢN

Yatai là tên gọi những quầy hàng lưu động ở Nhật Bản. Món ăn đa dạng, gọn nhẹ cùng mức giá phải chăng là những yếu tố khiến trải nghiệm Yatai trở thành hoạt động không thể thiếu khi ghé thăm bất cứ thành phố nào của xứ sở phù tang.

Mùa hè là mùa lễ hội ở Nhật chính vì vậy người dân ở đây mỗi độ hè về thì từ người lớn đến trẻ nhỏ đều nô nức chờ đón lễ hội mùa hè, ngoài việc được ngắm pháo hoa thì còn được thưởng thức những quầy Yatai rộn ràng âm thanh nấu nướng và mùi thơm từ những quầy hàng này toả ra thơm không cưỡng được.

Những quầy hàng yatai này không chỉ xuất hiện ở các lễ hội mà còn là một hình thức ẩm thực đường phố phổ biến ở Nhật. Hàng ngày các quầy hàng được đẩy bán từ lúc xế chiều cho tới tờ mờ sáng hôm sau. Cái đặc biệt của Yatai là mức giá bình dan mà lại được thưởng thức ở không gian thoải mái và náo nhiệt.

AM THUC 2

Yatai rầm rộ trong thời Edo, thời đó yatai hoạt động dưới hai hình thức là hàng rong và quầy cố định sau thế chiến thứ 2 Yatai chủ yếu hoạt động trong chợ đen để xoay sở thoát khỏi tình trạng mất cửa hàng trong chiến tranh. Tuy nhiên từ năm 1948 chính phủ Nhật ban hành nhiều bộ luật liên quan đến an toàn thực phẩm,.. gây khó khăn cho Yatai khiến cho phần lớn các quầy hàng ngừng hoạt động.

Hiện nay chỉ còn lại một số ít Yatai mà tập trung chủ yếu ở thành phố Fukuoka. Đến với Yatai bạn sẽ có cảm giác như đang thực sự thuộc về một nơi nào đó.

DUONG PHO 2

CÁC MÓN ĂN YATAI ĐƯỢC YÊU THÍCH

*Ramen: ramen đặc trưng bởi cách chế biến cầu kì ăn cùng thịt Chashu, trứng ngâm nước tương, măng khô, giá đỗ. Ramen có 4 vị phổ biến là: tương đậu nảnh, xương heo hầm, muối và nước tương.

MÌ RAMEN

*Ikayaki: Đây là món mực ống nguyên con. Mực được nướng để nguyên cả con bằng bếp than, phết sốt shoyu thơm ngon khó tả ngoài ra còn có bạch tuộc nướng, gà nướng,..

*Takoyaki: Bánh bạch tuộc nướng đây chính là biểu tượng của ẩm thực đường phố Nhật Bản, đặc sản của Thành phố Osaka nước Nhật

*Dango: Được làm từ bột nếp, Dango được dùng với nước xốt pha từ Shoyu, mirin và đường.

*Taiyaki: đây là một loại bánh ngọt truyền thống Nhật Bản, hình dạng của nó giống hình con cá nhân chủ yếu là đậu đỏ ninh đường.

*Kakigori: đây là một món ăn không thể thiếu khi nói đến ẩm thực Yatai, Kakigori- đá tuyết: đá tuyết bông xốp, mịn màng, tan ngay trên đầu lưỡi nếu bạn thưởng thức đá tuyết với trái cây thì trên cả tuyệt vời bởi vị ngon đặc biêt của nó.

KEM TUYET

ĐẶC TRƯNG YATAI

Yatai chỉ được chế biến trong các gian hàng nhỏ vì vậy phải đơn giản và nhanh gọn, các bạn thưởng thức yatai luôn luôn được thưởng thức hương vị thơm ngon của món ăn khi còn nghi ngút khói, thời gian chờ đợi các món ăn từ yatai hết sức nhanh chóng mà khiến bạn phải trầm trồ sao họ có thể khéo léo và làm nhanh đến vậy.

Hãy đến Nhật bản và nhớ thưởng thức món ăn yatai này nhé các bạn!

Công ty cổ phần Hinode Network

Văn phòng tư vấn du học Hinode : số 24 ngách 42/94 Thịnh Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội
Trung tâm ngoại ngữ Hinode : số 43 Thịnh Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội
Hotline : 0988-426-583, 0934-549-089, 0934-416-48

TÌM HIỂU HẸN HÒ CỦA NGƯỜI DÂN XỨ SỞ HOA ANH ĐÀO

Khác với Việt Nam ở Nhật bản trước khi chính thức trở hành 1 đôi người con trai và con gái sau khi phải tỏ tình thì mới chính thức được phép gọi là hẹn hò. Người Nhật họ rất coi trọng việc tỏ tình và họ coi đó là bước ngoặt để khẳng định một mối quan hệ bắt đầu. Chúng ta cùng tìm hiểu hẹn hò của người dân xứ sở hoa anh đào nhé.

Cùng xem các giai đoạn mà dân Nhật tỏ tình.

HẸN HÒ 5

Giai đoạn 1: Làm quen

2 người quen nhau qua 1 nhóm bạn hoặc tình cờ hoặc sao đó, nhưng thường con trai Nhật sẽ không bao giờ nói chuyện với con gái lạ trước, tốt nhất là nên được giới thiệu bởi 1 người bạn chung.

Và nếu như 1 trong 2 người quan tâm và có cảm tình với người kia thì họ sẽ chủ động mời người đó đi chơi riêng.

Giai đoạn 2: Tìm Hiểu

2 người có thể đi chơi với nhau chung 1 nhóm, hoặc đi chơi riêng vài lần. Dù cuộc hẹn chỉ có 2 người nhưng khi đi chơi cùng nhau họ chẳng bao giờ nắm tay hay một hành động nào tương tự  vì  họ không cho rằng đây là HẸN HÒ, với họ hẹn hò là chỉ dành cho các cặp đã chính thức bước vào mối quan hệ.

Tuy nhiên khi đề cập tới việc sẽ tiếp tục hẹn nhau vào lần sau thì họ lại trả lời là “Đương nhiên rồi! Bao giờ vậy?”, trong trường hợp đó, họ đang trông đợi lời tỏ tình được thốt ra từ chính đối phương mà thôi!

Trong một số trường hợp yêu đơn phương, có nhiều người còn không có cơ hội trải qua bước 2 này mà tiến thẳng lên giai đoạn 3

HẸN HÒ 4

Giai đoạn 3: Tỏ Tình

Lời thú nhận tình cảm như một công tắc vậy. Một khi công tắc đã được gạt, họ sẽ bước vào mối quan hệ chính thức. Hay nói cách khác, họ thường không hành động như một bạn trai hay bạn gái đúng nghĩa nếu hai người chưa chính thức hẹn hò.

Nếu bạn đã từng đọc manga, xem phim anime sẽ thấy hình ảnh một cô gái bẽn lẽn cầm thư đi tỏ tình với con trai là chủ yếu và nghĩ rằng con trai Nhật thật thụ động trong việc tỏ tình thì bạn nhầm rồi nhé! Trên thực tế thì các chàng trai Nhật Bản vẫn luôn là những người tỏ tình trước.

Hầu hết sau 3-4 buổi đi chơi như ở trên thì đến buổi tiếp theo người bạn trai nên “tỏ tình” nếu không người con gái sẽ buồn và thất vọng vì phải chờ đợi.

Khi thổ lộ tình cảm họ sẽ “tỏ tình”, bằng cách nói:

  1. 付き合ってください!(つきあってください)

“Chúng mình hãy hẹn hò đi!”,

  1. あなたのことが大好きです。(あなたのことが だいすきです。)

“Anh thích em rất nhiều!”

Người Nhật hạn chế nói câu: 愛してる(あいしてる) vì nhiều lí do.

HẸN HÒ 1

Nếu được đối tượng còn lại đồng ý thì cả 2 chính thức bước vào mối quan hệ mới với những buổi hẹn hò, và lễ kỉ niệm tình yêu vào chính ngày lời tỏ tình được nói ra. Lúc này họ cũng trở thành bạn trai – bạn gái của nhau. Và sau khi trở thành người yêu của nhau, nếu bạn hẹn hò với một người con gái hay con trai khác, hành động đó sẽ bị coi là “lừa đảo” bởi vì khi đó hai người đã chính thức trở nên độc quyền của nhau.

Có nhiều người nghĩ rằng, sẽ phí thời gian cho việc tỏ tình, hẹn hò với ai đó mà không tiến đến hôn nhân hay một mối quan hệ lâu dài. Nhưng đối với người Nhật, thì đây là một trong những điều kiện cần thiết, để những cặp đôi có thể bắt đầu bước vào một mối quan hệ nghiêm túc với nhau, và đây cũng được xem như là một trong những nét văn hoá truyền thống đặc trưng của người dân xứ sở Mặt trời mọc.

Ngoài ra dân Nhật khác dân Việt ở chỗ: các cặp đôi khi đã chia tay là họ chia tay luôn không có kiểu giận dỗi chia tay giống việt chia tay xong lại nối lại.

 

PHÂN BIỆT CÁCH DÙNG TRỢ TỪ ” に” VÀ ”で”

Khi mới học tiếng Nhật đa số các bạn sẽ bị nhầm giữa hai trợ từ này. Tưởng chừng dễ nhưng nếu không “vững” các bạn sẽ bị nhầm. Hôm nay chúng tôi sẽ chỉ cách cho các bạn phân biệt một cách KANTAN nhất nhé!

>> CÁCH PHÂN BIỆT ~が ほしい  VÀ ~たい

>> BÍ QUYẾT GIÚP BẠN “HẠ GỤC” KANJI

 

Trợ từ 「で」dùng trong trường hợp động từ chỉ động tác, hành vi.

 Trợ từ 「に」dùng trong trường hợp động từ chỉ sự tồn tại.

Theo nguyên tắc 
~で… する
Ở đâu…làm gì
~に (…が) ある・いる
Ở đâu…có/tồn tại cái gì

Tuy nhiên, cũng có những động từ được dùng trong cả hai cách 「で」và「に」giống như phía dưới.

Trong trường hợp đó có thể dùng 「で」thể hiện động tác (hành vi) và có thể dùng 「に」thể hiện sự tồn tại (địa điểm)

Nếu nói chặt chẽ hơn, 「に」chỉ kết quả của động tác (kết quả của động táchành vi) thực hiện tại nơi đó.

Chẳng hạn như động từ 「生まれる – được sinh ra「育つ – lớn lên」「消える – tan biếncó thể đi cùng với cả hai cách trợ từ 「で」và「に」

例:
このラジオは 中国ちゅうごくの工場【で】作つくられた。…ラジオを「作つくる」という行為が行おこなわれたのが中国。
Chiếc Radio  này được chế tạo ở nhà  máy  Trung Quốc.
(Nơi thực hiện hành vi “chế tạo” chiếc radio là Trung Quốc.)

新しい施設しせつが中国のテレビ工場【に】作られた。…

Những thiết bị mới được làm ở nhà máy tivi của Trung Quốc. 
(Địa điểm mà những thiết bị “được chế tạo” là Trung Quốc.)

田舎いなか【で】暮らす。…。
Tôi sống ở miền quê.
(Nơi đang thực hiện hành vi “sống” là miền quê)

田舎【に】暮らす。…
Tôi sống ở miền quê.
(Nơi đang “sống” là miền quê)

森もり【で】家いえを建てた。…

Xây nhà trong rừng .
(Nơi đã thực hiện hành động “xây” là rừng. Không hẳn là có căn nhà ở trong rừng)

森【に】家を建てた。…
Xây nhà ở trong rừng.
(Nơi có căn nhà được xây là rừng)

 

Trên đây là cách nhận biết, cách dùng hai trợ từ  に và で  Hinode xin chia sẻ tới bạn.

———–

Trung tâm Ngoại ngữ Hinode

Địa chỉ: Số 43, Phố Thịnh Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội

Hotline: 043.978.5252 (Mrs. Hà)

CÁCH PHÂN BIỆT ~が ほしい  VÀ ~たい 

Với các bạn mới học tiếng Nhật, thì cách phân biệt giữa  ~が ほしい  VÀ ~たい  còn chưa rõ. Hôm nay, chúng tôi – du học Hinode sẽ chỉ cho các bạn cách phân biệt đơn giản nhất về cách dùng của hai mẫu này.

>>  100 chữ Kanji xin chia sẻ tới bạn

  • Về ý nghĩa: cả hai cấu trúc này đều có nghĩa là  MUỐN CÓMUỐN LÀM.

Tuy nhiên cách dùng của nó và ứng vào từng trường  hợp là khác nhau hoàn toàn.

1. ~が ほしい: Là tính từ  đuôi い -> MUỐN, CÓ ( Sở hữu, ham muốn…) và tuy nhiên là không dùng cho thể ý định và khả năng các bạn nhé!

ví dụ:

a. お金が ほしいです。

→ tôi muốn có tiền.

b. さとうさんは 今 何が いちばん ほしいですか。

くるまが いちばん ほしいです。

2. Vます + たい MUỐN LÀM ( chủ thể muốn thực hiện 1 hành động nào đó, không dùng thể hiện ham muốn thực hiện hành động cho người thứ 3, chỉ dùng cho người nói và nghe).Động từ thể ます  たい có cách chia giống tính từ đuôi い.

Lưu ý 1: Trong cách nói này chúng ta có thể dùng trợ từ “ ” thay cho trợ từ “” như ví dụ 1 dưới đây.Ngoài “” không có trợ từ nào có thể thay thế được “ ” .

Ví dụ:

a. さしみ 食べたいです

                ()

->Tôi muốn ăn sashimi.

2. おなかが いたいですから、何も 食べたくないです。

Vì đau bụng nên tôi không muốn ăn gì cả.

3. 大阪で 何を(が) 買いたいですか。 >>> Bạn muốn mua gì ở Kobe?

くつを(が) 買いたいです。>>   Tôi muốn mua đôi giầy .

Lưu ý 2: Hai mẫu câu trên không thể dùng để mời người nghe dùng hay làm gì.Mà khi muốn mời ai đó dùng gì các bạn dùng các cấu trúc đã học như:

コーヒーは いかがですかhoặc là  コーヒーを のみませんか

コーヒーを 飲のみたいですか。Không dùng

コーヒーが ほしいですか。Không dùng

Hi vọng với chút kinh nghiệm như này các bạn sẽ KHÔNG bị nhầm giữa hai cái MUỐN này.

Các bạn có thể tham khảo thêm qua page của Hinode nhé!

Chúc các bạn học tốt!