NGUYÊN NHÂN LAO ĐỘNG ĐI NHẬT LÀM VIỆC PHẢI BỎ VỀ GIỮA CHỪNG

NGUYÊN NHÂN LAO ĐỘNG ĐI NHẬT LÀM VIỆC PHẢI BỎ VỀ GIỮA CHỪNG
Rate this post

Hiện nay đi Nhật làm việc đang là một giải pháp cứu cánh cho một lực lượng lao động thất nghiệp tại Việt Nam. Cũng như đây là một con đường tương lai dành cho tầng lớp lao động có trình độ chuyện môn. Để họ rèn giũa, nâng cao kỹ năng, chuyên môn.

Thế nhưng không giống như hầu hết những gì các bạn tưởng tượng về môi trường và cuộc sống làm việc tại Nhật. Rất nhiều bạn đã phải bỏ dở giữa chừng trở về nước,để lại nhiều sự tiếc nuối. Nguyên nhân nào khiến lao động đi Nhật làm việc phải bỏ về nước giữa chừng? Nguyên nhân bắt nguồn từ đâu và cách khắc phục ra sao?

1. Lao động đi Nhật làm việc không đủ điều kiện sức khỏe.

Lao động không đủ điều kiện sức khỏe là một lí do phổ biến và nhiều người đã gặp phải. Bởi mặc dù đã biết rõ về sức khỏe của mình nhưng nhiều người vẫn muốn được đi Nhật làm việc. Cố tình làm giả giấy tờ, thế nhưng giấy không gói được lửa. Đến khi đã xuất cảnh và sự thật bị lộ thì buộc các lao động đi Nhật làm việc bị về nước giữa chừng. Đây là một nguyên nhân bắt nguồn và lỗi 1 phần của người lao động.

Theo thông tư liên tịch của Bộ y tế, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc khám sức khỏe và chứng nhận cho lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài có tất cả 13 loại bệnh không đủ điều kiện sức khỏe để tham gia. Dưới đây là thông tin về 13 loại bệnh.

1. Các bệnh về tim mạch

– Bệnh huyết á

– Các bệnh van tim thực thể

– Di chứng tai biến mạch máu não
– Các bệnh tim bẩm sinh
– Loạn nhịp hoàn toàn
– Viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim cấp và mạn
– Tim to chưa rõ nguyên nhân
– Suy mạch vành, suy tim, nhồi máu cơ tim
– Người mang máy tạo nhịp tim
– Viêm tắc động mạch, viêm tắc tĩnh mạch.

2. Các bệnh về hô hấp

– Lao phổi đang tiến triển hoặc chưa chữa khỏi
– Tràn dịch, tràn khí màng phổi
– Tâm phế mãn
– Tắc nghẽn đường hô hấp mạn tính
– Khí phế thũng
– Xơ phổi
– Hen phế quản
– Viêm dày dính màng phổi
– Áp xe phổi
– Ung thư phổi, ung thư phế quản các giai đoạn.

3. Các bệnh về tiêu hoá

– Sỏi mật
– Xơ gan, ung thư gan
– Viêm gan
– Áp xe gan
– Lách to
– Cổ chướng
– Vàng da
– Loét dạ dày hành tá tràng có hẹp môn vị
– Ung thư đường tiêu hoá

4. Các bệnh về nội tiết

– Đái tháo đường
– Cường hoặc suy tuyến giáp
– Suy tuyến thượng thận
– Đái nhạt
– U tuyến thượng thận

5. Các bệnh thận và tiết niệu

– Viêm cầu thận cấp hoặc mạn
– Thận đa nang, u thận
– Suy thận
– Thận hư nhiễm mỡ
– Sỏi đường tiết niệu
– Viên đài bể thận cấp hoặc mạn

6. Các bệnh về thần kinh

– Động kinh
– U não, rồng tuỷ, u tuỷ, u thần kinh ngoại biên
– Di chứng bại liệt
– Liệt 1 hoặc nhiều chi
– Bệnh, tổn thương thần kinh trung ương hoặc ngoại biên
– Thoát vị đĩa đệm cột sống
– Xơ hoá cột bên teo cơ
– Bệnh u tuyến ức (liệt tứ chi)
– Parkinson
– Rối loạn vận động không phải Parkinson

7. Các bệnh về tâm thần

– Tâm thần phân liệt
– Rối loạn cảm xúc
– Histeria
– Nghiện ma tuý, nghiện rượu

8. Bệnh cơ quan sinh dục

– U xơ tuyến tiền liệt
– Ung thư dương vật, ung thư bàng quang
– Sa sinh dục
– Ung thư vú
– Ung thư cổ tử cung
– U nang buồng trứng.

9. Các bệnh về cơ xương khớp

– Viêm khớp dạng thấp
– Viêm cột sống dính khớp
– Cụt chi
– Viêm xương, cốt tuỷ viêm
– Thoái hoá cột sống giai đoạn 3.
– Loãng xương nặng

10. Các bệnh da liễu và hoa liễu.

– Bệnh lậu cấp và mạn.
– HIV, AIDS.
– Bệnh hệ thống tạo keo.
– Bênh phong trong thời gian còn điều trị (còn triệu chứng lâm sàng và vi khuẩn) và di chứng tàn tật độ 2.
– Nấm sâu, nấm hệ thống.
– Các thể Lao da.
– Viêm da mủ; viêm da mủ hoại tử.
– Viêm tắc động mạch.
– Vẩy rồng.
– Loét lâu lành.
– Bệnh Duhring; bệnh Pemphigus các thể.
– Bệnh Porphyrida.
– Viêm tắc tĩnh mạch.
– Hồng ban nút do Lao.
– Hồng ban nút do Liên cầu đang điều trị.
– Các bệnh da do vius, vi khuẩn, nấm, coxacki; ký sinh vật đang điều trị hoặc điều trị chưa khỏi.
– Các loại xăm trổ trên da.
– Bệnh vảy nến.
– Các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục (các thời kỳ bệnh giang mai, bệnh lậu cấp, bệnh do chlamydia trachomatis; Nicholafavre; Donovanoh, bệnh hạ cam mềm….).

11. Các bệnh về mắt

– Các bệnh về mắt cấp tính cần được điều trị (cơn glôcôm cấp, viêm thị thần kinh cấp, viêm màng bồ đào cấp….).
– Sụp mi từ độ III trở lên.
– Viêm màng bồ đào.
– Đục nhân mắt.
– Thiên đầu thống.
– Quáng gà.
– Viêm thần kinh thị giác.
– Thoái hoá võng mạc.
– Các bệnh mắt có thị lực (có kính) < 8/10 và có biến đổi thị trường.

12. Các bệnh về Tai Mũi Họng

– U hoặc ung thư vòm họng.
– Viêm xoang, viêm tai giữa chưa ổn định.
– Trĩ mũi.

13. Các bệnh về răng hàm mặt.

– Dị tật vùng hàm mặt.
– Các bệnh, các loại u và nang vùng răng miệng, hàm mặt ảnh hưởng đến sức khoẻ và công tác.

2. Không phù hợp với công việc.

Nguyên do không phù hợp với công việc được xuất phát từ khâu lựa chọn đơn hàng không chuẩn. Nhiều người cứ nghĩ bản thân hoàn toàn có thể làm được những việc trong đơn hàng một cách dễ dàng. Và không gặp bất kì khó khăn nào.

Trong quá trình đào tạo trước khi xuất cảnh thì các lao động cũng chưa phát hiện ra điều bất ổn giữa bản thân với công việc sắp tới. Thế nhưng ngay sau khi đi Nhật làm việc thì lao động đã bị gặp trục trặc dẫn đến không thể hoàn thành được công việc.

Ví dụ như người lao động đi đơn hàng xây dựng lại sợ độ cao. Đơn hàng nuôi thủy sản lại bị say sóng,… . Những điều yếu đó sẽ là những rào cản ngăn cách bạn hòa nhập được với công việc mới này. Vì thế mà không ít người đã phải bỏ nghề và về nước. Để tránh gặp phải tình cảnh này bạn nên định hướng thật rõ trước khi lựa chọn đơn hàng.

3. Lao động đi Nhật làm việc vi phạm pháp luật.

Những lao động khi đi Nhật làm việc  mà bị vi phạm pháp luật như ăn cắp. Ăn trộm. Đánh người, hành hung người xung quanh,…. . Nếu vi phạm hành vi nào cũng sẽ dẫn đến hậu quả bị trục xuất về nước.

Hiện nay, công dân có quốc tịch Việt Nam đứng đầu danh sách các trường hợp người nước ngoài vi phạm pháp luật sở tại của Nhật Bản.

Báo Kyodo ngày 12/4 dẫn nguồn từ Cơ quan cảnh sát Quốc gia Nhật Bản cho biết năm 2017, tổng số trường hợp vi phạm pháp luật của người có quốc tịch Việt Nam là 5.140 tăng 3.177 vụ so với năm 2016. Đứng thứ 2 là người có quốc tịch Trung Quốc có 4.701 vụ.

Tuy nhiên, về số người phạm tội, Trung Quốc xếp thứ nhất với 3.159 người bị kết án trong khi số người mang quốc tịch Việt Nam bị kết án là 2.549 người.

Số lượng công dân có quốc tịch Việt Nam tại Nhật Bản đã tăng 6 lần trong 10 năm qua, đạt khoảng 260.000 người. Cùng với sự gia tăng về số lượng người là sự gia tăng vụ vi phạm pháp luật, hầu hết các vụ phạm pháp của người Việt Nam liên quan tới ăn cắp hàng hoá trong siêu thị./.

4. Lao động đi Nhật làm việc vi phạm kỷ luật lao động.  

Ở mức độ vi phạm kỷ luật này có phần nhẹ hơn vi phạm pháp luật. Thế nhưng nếu gây hậu quả nghiêm trọng cho xí nghiệp, cơ quan làm việc thì bạn cũng bị đuổi việc và bị trục xuất về nước. Rất nhiều người khi mới sang làm việc đã không nghiêm túc chấp hành nội quy và chăm chỉ làm việc. Thay vào đó là đi lôi bè kéo phái, gây gổ đánh nhau,… làm gây mất tinh thần đoàn kết của nhân viên. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả làm việc của mọi người.

Có không ít người khi chưa có hiểu biết kĩ càng mà luôn nghĩ khi sang Nhật làm sẽ nhàn hạ và được hưởng lương cao. Vì thế mà khi thực tế xuất cảnh lại hoàn toàn vỡ mộng. Họ chán nản với mức lương không cao như trên mây giống họ nghĩ. Không hài lòng với công việc và mức lương nên cũng không ít người bỏ về nước.

Trên đây chỉ là mấy nguyên nhân chính gây ra khiến cho lao động đi Nhật về nước. Còn thực tế vẫn còn rất nhiều chuyện éo le. Thế nhưng bạn nên bình tĩnh, kiên trì và cố gắng làm việc. Chúc các bạn tìm đuọc hướng đi đúng cho mình.

Bình luận

bình luận